Chiến lược hoạt động Chương trình phát triển Dự án 3 xã An Hải, Phước Hải và Phước Dinh - Huyện Ninh Phước, Giai đoạn 2008-2010.
Huyện Ninh Phước nằm về phía Nam tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc giáp Thành phố Phan Rang Tháp Chàm, phía Nam giáp Huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp huyện Ninh Sơn, phía đông giáp Biển Đông. Đườn quốc lộ số 1 và đường sắt Bắc - Nam chạy ngang qua địa bàn huyện, những điều kiện này tạo thuận lợi cho huyện trong việc trao đổi văn hoá, Kinh tế - xã hội với các tỉnh trong nước.
Địa hình kiến tạo, địa chất tạo ra cho huyện Ninh Phước có một kiểu địa hình kết hợp giữa đồng bằng ven Biển và địa hình thung lũng trước núi, phía Tây và phía Tây Nam là dãy núi cao, chênh lệch địa hình tương đối lớn và thấp dần theo hướng Đông - Bắc, Lượng mưa trong năm khá thấp ( từ 600 – 800mm) nắng gió nhiều, bốc hơi mạnh nhiệt độ trung bình năm 27C, cao nhất 39C. Vùng Biển của huyện Ninh Phước có độ sâu trung bình và chiều dài bờ Biển là 42,5km.
Diện tích tự nhiên toàn huyện có 90.686,96ha trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 24.959,89ha chiếm 27,52%. Riêng đất cây trồng hàng 21.336,84ha, đất chuyên dùng 3.348,58ha chiếm 3,69%. Đất ở 1.072,87ha và đất chưa sử dụng sông suối 240.821,2ha chiếm 27,37%.
Các khoáng sản của Ninh Phước bao gồm: Muối, San hô, Cát thuỷ tinh, Đá hoa cương….. đang được khai thác có hiệu quả.
Các xã trong thuộc dự án:
+ Xã Phước Dinh là xã ven biển của huyện Ninh Phước. Diện tích tự nhiên 13.118,2ha, tổng dân số toàn xã 8.495 người, xã có 5 thôn là xã bãi ngang, người nghèo 1.498, tỷ lệ 17,63%. Đánh cá là một trong những nguồn thu nhập chính của người dân xã Phước Dinh.
Tỷ lệ trẻ em đến trường đạt thấp (66%). Tỷ lệ tăng dân số khá cao, tới hơn 3%. Hệ thống cơ sở hạ tầng tuy có đầu tư nhưng vẫn còn nhiều thiếu thốn. Đường nối liên thôn, liên xã thường xuyên bị hư hỏng do mưa lũ gây ra hàng năm phải đầu tư sửa chữa. Môi trường vệ sinh hết sức yếu kém chỉ có khoảng 20% các hộ có nhà vệ sinh không có khu vực rác thải tập trung.
+ Xã Phước Hải có diện tích tự nhiên 3.341ha, dân số 12.478 người, xã có 4 thôn. Đây là xã cuối kênh của huyện. Người nghèo có 1.958 người. Người dân sống chủ yếu thu nhập từ nông nghiệp, thường xuyên bị lũ lụt làm cho đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu các trẻ mẫu giáo đến trường nhiều nhưng trường lớp còn thiếu làm cho các con em vùng dân tộc gặp nhiều khó khăn khi bước vào tiểu học.
+ Xã An Hải có diện tích tự nhiên 2.091,89ha, dân số 13.245 người gồm có 7 thôn tỷ lệ nghèo còn cao, có 2.309 người. Mặc dù xã này thuộc vùng ven Biển xã bãi ngang nhưng toàn bộ dân cư sống bằng nghề nông trồng nho và cây lúa. Vùng cuối kênh thường xuyên bị lũ lụt các điều kiện kinh tế giống như xã Phước hải.
Mục tiêu chung:
Xây dựng năng lực phát triển và quản lý cộng đồng nhằm giúp cho người nghèo có năng lực tham gia vào các hoạt động phát triển và có ảnh hưởng đến cuộc sống của mình, từ đó giúp cho họ thoát nghèo một cách bền vững.
Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng cộng đồng đoàn kết, tương trợ, trợ giúp người nghèo, người dễ bị tổn thương ( Phụ nữ, trẻ em nghèo, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS ) thông qua các hình thức sinh hoạt theo từng nhóm phát triển cộng đồng (PTCĐ) như: Nhóm tín dụng tiết kiệm phụ nữ nghèo, lớp học xoá mù chữ - Phát triển cộng đồng và nhóm sở thích.
- Nâng cao nhận thức, kiến thức kỹ năng giúp cho người nghèo và cộng đồng có khẳ năng tham gia vào các hoạt động cộng đồng và cải thiện cuộc sống của mình trong các lĩnh vực an ninh lương thực, giáo dục, nước sạch, vệ sinh môi trường, phòng ngừa thảm hoạ thiên tai và tăng cường bình đẳng giới hạ mức thấp nhất tình trạng bạo lực gia đình. Tăng cường khả năng tiếp cận của người dân nghèo đối với các dịch vụ cơ bản ( giáo dục, y tế, khuyến nông ).
- Nâng cao năng lực, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong quá trình quản lý dự án giảm nghèo của đội ngũ cán bộ cơ sở, nhằm huy động các nguồn lực cộng đồng cho các hoạt động dự án.
- Xây dựng năng lực cho đội ngũ cán bộ thuộc văn phòng dự án giảm nghèo huyện Ninh Phước để đủ khả năng viết dự án kêu gọi nhà tài trợ, huy động vốn, duy trì và phát triển chương trình xoá đói giảm nghèo ở các địa phương.
Các chương trình và ngân sách hoạt động: Nhằm đạt được các mục tiêu trên với kinh phí cho 3 năm ( 2008 – 2010 ) là 7,2 tỷ ( bảy tỷ hai trăm triệu đồng), hoạt động chính của chương trình sẽ là:
1/ Quyền phụ nữ (749 triệu đồng)
Tổ chức xây dựng năng lực và nhận thức về quyền bình đẳng giới thay đổi thái độ hành vi của người dân đem lại sự đoàn kết trong gia đình, sự bình yên làng xóm. Góp phần giữ gìn trật tự xã hội ở địa phương.
2/ Giáo dục (1.704 triệu đồng)
Tạo cho trẻ em có cơ hội tiếp cận dịch vụ giáo dục có chất lượng bậc mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, tạo tiền đề cho các em có cơ hội vươn lên tới bậc cao hơn, giảm tỷ lệ bỏ học và thu hút các cháu trong độ tuổi đến trường ngày càng cao hơn và nâng cao kiến thức cho người lớn và trẻ em.
3/ Quyền có lương thực (2.010 triệu đồng)
Từng bước ổn định và tạo việc làm tăng nguồn thu nhập thông qua việc đa dạng hoá ngành nghề gồm có: Dệt thổ cẩm, buôn bán nhỏ, các mô hình chăn nuôi….đồng thời tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vốn xoay vòng tạo kế sinh nhai.
4/ Quản trị nhà nước (529 triệu đồng)
Nâng cao năng lực và hiểu biết của cán bộ và người dân tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động các chương trình và phát triển cộng đồng ở từng bộ phận dân cư.
5/ Hoạt động tập trung vào trẻ (832 triệu đồng)
Giúp các em vui chơi giải trí trong dịp lễ, sinh hoạt hè. Nâng cao kiến thức, kỹ năng sống của trẻ và tăng cường sự tham gia của trẻ vào các hoạt động cộng đồng.
6/ HIV/AIDS: Ngân sách lồng ghép vào các chương trình.
Nâng cao nhận thức của các tổ chức cộng đồng về nguy cơ đại dịch. Tập huấn chương trình SATR và thành lập các nhóm cộng đồng để lồng ghép các hoạt động về HIV/AIDS.
7/ Hoạt động khác:
Ngân sách là: 225 triệu đồng; gồm các hoạt động như: Đánh giá, xây dựng kế hoạch, hội thảo, sơ kết và tổng kết.
8/ Quản lý phí (1.162 triệu đồng)