Hội Bỏ Mả (PƠTHI)
Hội Pơ-thi là ngày hội lớn nhất, vui nhất và là ngày hội cuối cùng trong một năm của dân tộc Ba Na, Gia Rai, Ê Đê.
Theo quan niệm của người Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, người chết tuy mất đi về thể xác, nhưng phần hồn vẫn tồn tại, luẩn quẩn xung quanh nhà mồ. Hồn sinh hoạt bình thường như người sống trên trần gian. Vì quan niệm như thế nên mỗi ngày trước khi ăn cơm, người nhà thường đem cơm, thức ăn đặt vào nhà mồ rồi ngồi khóc.
Trong thời gian giữ nhà mồ, hàng năm người ta phải tốn kém nhiều của cải, gia súc, thóc gạo để tổ chức những lễ thăm viếng. Những người chịu tang không được tham gia vào những ngày hội hè lễ tết, không được tham dự những cuộc vui chơi chung. Người chồng, hoặc vợ goá của người chết không được đi lấy chồng, lấy vợ lần nữa. Nếu ai vi phạm thì sẽ bị phạt bằng cách phải trả lại một phần tài sản chung của hai vợ chồng cho gia đình người quá cố và phải xuất tiền riêng của mình để làm lễ pơ-thi cho người đã chết.
Muốn khỏi tốn kém, bận tâm với người chết, gia đình phải tổ chức hội Pơ-thi. Từ khi có người chết đến khi tổ chức ngày hội Pơ-thi thời gian quy định thường là ba năm hoặc tính khoảng thời gian đó bằng cách trồng bên cạnh mồ một cây ăn quả, khi nào cây ra hoa, quả thì tiến hành làm Lễ Pơ Thi.
*Người Ba Na:
- Ngày thứ nhất gọi là ngày vào hội (mút)
- Ngày thứ hai gọi là ngày vỡ hội (pơchanh)
- Ngày thứ ba là ngày rửa nồi (sách gó)
- Ngày thứ tư là ngày giải phóng cho người goá bụa (klei kơm lai).
+ Ngày thứ nhất, việc cần làm đầu tiên là đốn cây to làm hàng rào xung quanh nhà mồ Tiếp đó, cần đẵn gỗ để đẽo tượng dựng quanh nhà mồ. Cuối cùng mới là làm mái nhà mồ.
Dựng xong nhà mồ, người ta làm tiếp cái sàn (pơnang) đặt ngay chỗ đầu người chết. Pơnang là nơi để thức ăn cho người chết. Pơnang gồm bốn cột tượng đẽo hình con chó hoặc con công.
Khi nhà mồ đã làm xong, chủ nhà mồ phải chuẩn bị gạo tẻ, gạo nếp để làm cơm lam. Chuẩn bị lợn, trâu, bò, rượu cần đủ ăn, uống trong bốn ngày hội.
Thanh niên nam nữ có nhiệm vụ vào rừng hái lá gói thịt, chặt cây nứa con để nướng cơm lam; chặt ống lồ ô để đựng nước uống rượu.
Vào khoảng 3 giờ chiều, buôn làng nhộn nhịp hẳn lên, kẻ đi, người lại tấp nập. Những cô gái trẻ của buôn làng mang từng gùi cơm lam chất lên sàn nhà chuẩn bị đưa tới nhà mồ.
Chủ nhà dắt trâu, bò đến buộc quanh nhà mồ. Một số người khác có nhiệm vụ giết lợn, gà chuẩn bị cho cuộc uống rượu ban đêm.
Sau khi làm xong phần việc của mình, nam nữ thanh niên chuẩn bị ra nhà mồ. Họ đóng khố, mặc váy koteh mới tinh để vui chơi, ca múa trong những ngày hội.
Chủ nhà mồ cúng xong, chiêng cồng nổi lên rộn ràng, có lúc cả ba, bốn bộ chiêng cùng được đánh lên âm hưởng rộn ràng, náo nức lòng người. Dòng người là thanh niên nam nữ nhịp nhàng, uyển chuyển múa theo nhịp trống. Khi mệt, họ nghỉ để lấy lại sức. Chủ nhà mổ thết đãi họ bằng cơm lam, thịt nướng và uống rượu cần, ăn xong họ lại tiếp tục nhảy múa. Cạnh đó là các ông già múa rối giật, trò chơi này thu hút thanh niên đến xem rất đông, vui.
Đến gần sáng, thanh niên về nhà ngủ. Thay thế họ lúc này là lớp người già.
+ Ngày thứ 2, trời mờ sáng, họ giết trâu, bò làm thịt. Đây là ngày đông nhất, vui nhất của hội bỏ nhà mồ. Mọi người trong xã ùn ùn kéo đến. Không phân biệt già trẻ, trai gái, mọi người đều tham gia vào những cuộc chơi múa hát. Vui nhất là ngày làm hề rối (tiếng dân tộc gọi là bram). Tối đến, cuộc vui chơi tạm ngừng. Ai nấy về nhà mình để nghỉ ngơi.
+Ngày thứ ba, họ tiếp tục uống rượu, ca hát ở nhà.
So với hai ngày đầu, ngày thứ ba cũng không kém phần sôi nổi. Họ hàng, anh em xa gần của chủ nhà mồ, của buôn làng kéo đến rất đông. Mỗi người mang theo một ghè rượu, một con lợn hoặc gà để góp vui...Trong ngày này, họ không đánh chiêng, cồng như ở nhà mồ mà chỉ ăn uống, vui chơi, ca hát, thăm hỏi lẫn nhau tại buôn làng. Cuộc vui này kéo dài cho đến tối thì tạm nghỉ.
+ Ngày thứ tư, họ tiếp tục uống rượu. Theo phong tục, với những nghi thức đơn giản, họ làm lễ giải phóng cho những người goá vợ hoặc goá chồng. Người ta tắm, gội cho người goá, cho phép người được cười, hát như những người bình thường. Tính hết ngày thứ tư này, người goá hoàn toàn tự do. Họ không còn phụ thuộc vào người chết nữa.
So với các ngày hội mùa, hội mừng sức khỏe, hội đâm trâu thì hội Pơ-thi của dân tộc Ba Na, Gia Rai, Ê Đê là ngày hội lớn nhất. Qua việc tổ chức ngày hội Pơ-thi, những người sống đã biểu lộ lòng thương tiếc của mình đối với những người thân đã chết. Trong ngày hội này, những cuộc múa, hát mang tính quần chúng rất cao. Đồng thời, đây cũng là một dịp tốt để đi lại thăm hỏi lẫn nhau, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm sản xuất để những mùa rẫy sau được tốt hơn.
Trích: Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu sổ Việt Nam, tập II